Chi tiết tin - Xã Triệu Ái - Triệu Phong

- Đang truy cập 1
- Hôm nay 408
- Tổng truy cập 1.274.584
Những việc làm có lợi cho nhân dân: Chính sách, phong trào, hành động và chương trình tiêu biểu
8:34, Thứ Tư, 11-2-2026
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng và xây dựng đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định chăm lo đời sống nhân dân là mục tiêu tối thượng, là động lực và cũng là thước đo thành công của mọi chủ trương, chính sách. Từ những ngày đầu thành lập, Đảng đã khẳng định: “Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân”. Đặc biệt, trong bối cảnh đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng và những thách thức mới như biến đổi khí hậu, già hóa dân số, dịch bệnh, Đảng tiếp tục phát động, chỉ đạo và tổ chức thực hiện hàng loạt chương trình, chính sách, phong trào lớn nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, bảo vệ môi trường và không ngừng củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Bài báo này tổng hợp các chính sách, phong trào, chương trình và hành động cụ thể về những việc làm có lợi cho nhân dân: an sinh xã hội, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, y tế, giáo dục, việc làm, nhà ở, bảo vệ môi trường, chăm lo người có công, phát triển kinh tế địa phương, bảo hiểm xã hội đa tầng và các phong trào xã hội tiêu biểu trong giai đoạn 2024–2026.
1. Chủ trương, quan điểm của Đảng về chăm lo đời sống nhân dân
Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán xác định: “Con người là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển”. Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, hạnh phúc của nhân dân, bảo đảm công bằng, tiến bộ và bình đẳng xã hội. Đảng yêu cầu mọi chính sách, chương trình phải hướng vào việc nâng cao chất lượng sống, tạo điều kiện để mọi người dân đều có cơ hội phát triển toàn diện.
Tư tưởng này được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện Đại hội XIII, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Bộ Chính trị, cũng như trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đặc biệt, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người”.
Ảnh: Đường Hùng Vương mới và định hướng quy hoạch.
2. Phát triển bền vững, bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau
Đảng xác định phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt, trong đó tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người dân. Các chính sách xã hội được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế, hướng tới phát triển bao trùm, giảm nghèo đa chiều, thu hẹp khoảng cách vùng miền, nhóm đối tượng, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển.
3. Huy động sức mạnh toàn dân, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân
Đảng nhấn mạnh vai trò chủ thể của nhân dân trong mọi phong trào, chương trình phát triển. Các chủ trương lớn như xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số đều được triển khai với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân được phát huy vai trò trong giám sát, phản biện, tổ chức thực hiện và lan tỏa các giá trị tốt đẹp trong cộng đồng.
4. Chính sách giảm nghèo đa chiều, bền vững
Đảng xác định giảm nghèo là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, với mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều 1–1,5%/năm, ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng đặc biệt khó khăn. Chính phủ đã ban hành Nghị định 30/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021–2025, bổ sung tiêu chí xác định người lao động có thu nhập thấp, làm cơ sở thực hiện các chính sách hỗ trợ, đào tạo nghề, an sinh xã hội.
Các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững được tích hợp với xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhằm tối ưu nguồn lực, phát triển bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau.
5. Chính sách trợ giúp xã hội
Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất được mở rộng, bao phủ hơn 3,5% dân số, tập trung vào người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hộ nghèo, cận nghèo. Các chính sách hỗ trợ đặc thù cho người yếu thế, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 36 tháng tuổi, hộ nghèo vùng dân tộc thiểu số được triển khai mạnh mẽ giai đoạn 2024–2030.
Tác động thực tế
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ hơn 70% năm 1990 xuống còn 2,23% năm 2021.
- Thu nhập bình quân hộ nghèo tăng 3,5 lần trong 10 năm qua.
- Đến năm 2022, có 3,3 triệu người hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên, trong đó trên 55% là người cao tuổi.
6. Chương trình xây dựng nông thôn mới và nông thôn mới hiện đại
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) là một trong những chương trình lớn nhất, có tác động sâu rộng đến đời sống nông dân, nông thôn. Mục tiêu là xây dựng nông thôn hiện đại, giàu đẹp, bản sắc, bền vững, gắn với đô thị hóa, thích ứng biến đổi khí hậu, phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Giai đoạn 2026–2035, chương trình được tích hợp với giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, hướng tới phát triển bao trùm, bền vững, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới (2026–2030)
Theo Quyết định 51/2025/QĐ-TTg, Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026–2030 gồm 10 nhóm tiêu chí: quy hoạch, hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế nông thôn, đào tạo nguồn nhân lực, văn hóa – giáo dục – y tế, giảm nghèo và an sinh xã hội, khoa học công nghệ và chuyển đổi số, môi trường và cảnh quan, hệ thống chính trị và hành chính công, tiếp cận pháp luật và an ninh – quốc phòng.
Tiêu chí xã nông thôn mới hiện đại nhấn mạnh yêu cầu về hạ tầng số, năng lượng tái tạo, mô hình nông nghiệp thông minh, phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế dựa trên khoa học công nghệ và chuyển đổi số, an sinh xã hội, môi trường sống an toàn, cảnh quan xanh – sạch – đẹp.
Kết quả và tác động
- Đến năm 2025, hơn 80% xã trên toàn quốc đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó ít nhất 10% đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.
- Thu nhập bình quân người dân nông thôn tăng gấp 2,5–3 lần so với năm 2020 vào năm 2030.
- Hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, số hộ khá và giàu tăng.
- Đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn không ngừng được nâng cao, môi trường sống được cải thiện, tỷ lệ sử dụng nước sạch đạt trên 93%.
7. Chính sách y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân
Nghị quyết 72-NQ/TW (2025) của Bộ Chính trị xác định: “Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, là nền tảng quan trọng nhất cho hạnh phúc của mọi người, cho sự tồn vong của dân tộc và sự phát triển thịnh vượng, bền vững của đất nước. Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là mục tiêu, là động lực, là nhiệm vụ chính trị hàng đầu”.
Mục tiêu đến năm 2030:
- Tuổi thọ trung bình đạt 75,5 tuổi, số năm sống khỏe mạnh tối thiểu 68 năm.
- Tỷ lệ tiêm chủng các vắc-xin thiết yếu đạt trên 95%.
- Từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần.
- Đến năm 2030, miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế theo lộ trình.
- 100% trạm y tế xã được đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, nhân lực; đến năm 2027 có ít nhất 4–5 bác sĩ/xã.
- Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 95% dân số vào năm 2026, tiến tới toàn dân vào năm 2030.
Chính sách và giải pháp đột phá
- Chuyển mạnh từ tư duy tập trung khám chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, phát triển y tế dự phòng, y tế cơ sở, y học cổ truyền.
- Đưa nội dung giáo dục sức khỏe, dinh dưỡng vào chương trình giáo dục các cấp.
- Luân chuyển ít nhất 1.000 bác sĩ/năm về trạm y tế xã giai đoạn 2025–2030.
- Chính sách ưu đãi đặc thù cho nhân viên y tế tuyến xã, vùng khó khăn.
- Đẩy mạnh chuyển đổi số trong y tế: sổ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử, đơn thuốc điện tử, ứng dụng AI, Big Data, IoT.
- Phát triển y tế tư nhân, khuyến khích bệnh viện tư nhân quy mô lớn, kỹ thuật chuyên sâu.
- Tăng chi từ Quỹ Bảo hiểm y tế cho phòng bệnh, chẩn đoán, điều trị sớm; thí điểm các gói bảo hiểm y tế bổ sung.
Tác động thực tế
- Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 91% dân số vào năm 2021, dự kiến đạt trên 95% vào năm 2026.
- Tuổi thọ trung bình tăng từ 62 tuổi (1990) lên 74 tuổi (2020), hướng tới 75,5 tuổi vào năm 2030.
- Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi đạt 96–98%.
- Hệ thống y tế cơ sở được củng cố, tăng cường năng lực, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.
8. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
Đảng xác định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, là yếu tố quyết định nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, giao lưu hợp tác quốc tế. Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đặt mục tiêu xây dựng nền giáo dục hiện đại, toàn diện, công bằng, hội nhập quốc tế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy công bằng xã hội và phát triển bền vững.
9. Chính sách hỗ trợ và an sinh xã hội trong giáo dục
- Hỗ trợ trẻ dưới 36 tháng tuổi vào nhà trẻ, đặc biệt tại vùng khó khăn, khu công nghiệp, khu đô thị đông dân.
- Chính sách miễn, giảm học phí, học bổng, trợ cấp xã hội cho học sinh, sinh viên là đối tượng chính sách, dân tộc thiểu số, hộ nghèo, cận nghèo.
- Chính sách tín dụng giáo dục, hỗ trợ chi phí sinh hoạt, phát triển hệ thống giáo dục mở, linh hoạt, ứng dụng chuyển đổi số.
10. Giáo dục nghề nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực
Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2045 đặt mục tiêu:
- Đến năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 30%; đến năm 2030 đạt 35–40%.
- Thu hút 40–55% học sinh tốt nghiệp THCS, THPT vào hệ thống giáo dục nghề nghiệp.
- Đào tạo lại, đào tạo thường xuyên cho 25–50% lực lượng lao động.
- Tỷ lệ lao động dân tộc thiểu số qua đào tạo nghề đạt 45–50%.
- Phát triển các trung tâm đào tạo nghề chất lượng cao, chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp.
Tác động thực tế
- Tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên biết chữ đạt 97,85%.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70,25% năm 2020, hướng tới 70% năm 2025.
- Hệ thống trường dân tộc nội trú, bán trú được mở rộng, hỗ trợ học sinh vùng khó khăn, dân tộc thiểu số.
11. Chính sách phát triển thị trường lao động, tạo việc làm bền vững
Đảng xác định phát triển thị trường lao động hiện đại, tạo việc làm bền vững, giảm tỷ lệ thất nghiệp, chính thức hóa việc làm phi chính thức, hỗ trợ người lao động chuyển đổi nghề, thích ứng với chuyển đổi số, cách mạng công nghiệp 4.0.
Tỷ lệ thất nghiệp duy trì dưới 3%, tỷ lệ thất nghiệp thành thị dưới 4%.
Tạo 1,5–1,6 triệu việc làm/năm.
12. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Luật Việc làm sửa đổi (có hiệu lực từ 1/1/2026) mở rộng diện tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bổ sung nhiều nhóm đối tượng, tăng tính linh hoạt về mức đóng, hỗ trợ người lao động khi mất việc, đào tạo nghề, tìm việc mới.
Đến năm 2030, phấn đấu 45% lực lượng lao động tham gia BHTN.
Chính sách hỗ trợ học nghề cho người lao động tham gia BHTN: tối đa 4.500.000 đồng/người/khóa học dưới 3 tháng, 1.500.000 đồng/người/tháng cho khóa học trên 3 tháng.
Tác động thực tế
- Số người tham gia BHTN tăng từ 8,27 triệu (2012) lên gần 13,4 triệu (2021).
- Hơn 16 triệu người tham gia BHTN năm 2024, dự kiến tăng lên 18,8 triệu vào năm 2027.
13. Chính sách phát triển nhà ở xã hội
Nghị quyết 201/2025/QH15 và Nghị định 192/2025/NĐ-CP quy định thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội, đặt người dân làm trung tâm, ưu tiên người thu nhập thấp, công nhân, cán bộ, lực lượng vũ trang.
Quỹ nhà ở quốc gia hỗ trợ tài chính phát triển nhà ở xã hội, đầu tư hạ tầng kỹ thuật, xã hội.
Giao chủ đầu tư không qua đấu thầu, đơn giản hóa thủ tục, minh bạch quy trình xét duyệt, kiểm soát đối tượng thụ hưởng.
Giá bán, thuê nhà ở xã hội được kiểm soát, công khai, bảo vệ quyền lợi người dân.
Mục tiêu phát triển ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội đến năm 2030.
14. Chính sách nước sạch, vệ sinh môi trường
Tỷ lệ sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh của dân cư thành thị đạt 95–100%, nông thôn đạt 93–95%.
Chính sách hỗ trợ nhà ở, nước sạch cho hộ nghèo, người có công, vùng khó khăn được triển khai đồng bộ.
Tác động thực tế
- Đến năm 2020, hỗ trợ nhà ở cho 648.000 hộ nghèo nông thôn, 339.176 hộ gia đình có công, 323.000 căn nhà cho người nghèo.
- Tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch tăng mạnh, góp phần cải thiện sức khỏe cộng đồng, giảm bệnh tật.
15. Chính sách bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu
Đảng xác định bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí phát triển bền vững, phải được lồng ghép trong mọi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, phát triển kinh tế - xã hội hài hòa với thiên nhiên, lấy phòng ngừa là chính, từng bước cải thiện chất lượng môi trường sống.
Chính sách, chương trình tiêu biểu
Nghị quyết 41-NQ/TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nghị quyết 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Đề án trồng 1 tỷ cây xanh giai đoạn 2021–2025, phong trào “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”.
Nghị định 290/2025 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước, bảo vệ nguồn nước sạch cho cộng đồng.
Tác động thực tế
- Tỷ lệ che phủ rừng duy trì ổn định trên 42%.
- Năm 2024, trồng được 245.000 ha rừng tập trung, 130 triệu cây xanh phân tán; thu dịch vụ môi trường rừng đạt trên 3.400 tỷ đồng; xuất khẩu lâm sản đạt 17,3 tỷ USD.
- Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt 90%; tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đạt 100%.
16. Chính sách ưu đãi người có công
Nghị định 77/2024/NĐ-CP điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng từ 2.055.000 đồng lên 2.789.000 đồng, tăng 35,7% so với trước đây. Các chế độ ưu đãi bao gồm trợ cấp hằng tháng, phụ cấp, bảo hiểm y tế, hỗ trợ nhà ở, phục hồi sức khỏe, ưu tiên tuyển sinh, tạo việc làm, miễn giảm tiền sử dụng đất, vay vốn ưu đãi, miễn giảm thuế.
17. Chính sách hỗ trợ người yếu thế, dân tộc thiểu số
Nghị định 272/2025/NĐ-CP về phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2030, phân bổ hơn 3.100 tỷ đồng hỗ trợ phát triển văn hóa, nâng cao đời sống vùng dân tộc thiểu số.
Chính sách trợ giúp xã hội, hỗ trợ người khuyết tật, người cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ em, hộ nghèo vùng dân tộc thiểu số được triển khai đồng bộ.
Tác động thực tế
- 99,5% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình.
- Hàng triệu người có công, thân nhân được hỗ trợ nhà ở, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học tập, tạo việc làm.
18. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
Phong trào này được phát động sâu rộng, trở thành động lực xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, nâng cao đời sống tinh thần, gắn kết cộng đồng, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
19. Phong trào “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”
Khởi xướng từ năm 1960, phong trào đã trở thành nét đẹp truyền thống, góp phần bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế lâm nghiệp, nâng cao nhận thức cộng đồng, xây dựng nông thôn mới xanh, sạch, đẹp.
19. Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”
Được phát động trên toàn quốc, phong trào huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn dân, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
20. Các phong trào thi đua yêu nước, đền ơn đáp nghĩa, tương thân tương ái
Đảng phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước, đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, chăm sóc, giúp đỡ người có công, người nghèo, lan tỏa giá trị nhân văn, truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
21. Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP)
Chương trình OCOP là giải pháp đột phá phát triển kinh tế nông thôn, phát triển sản phẩm đặc trưng địa phương theo chuỗi giá trị, do các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất thực hiện, Nhà nước kiến tạo, hỗ trợ về đào tạo, khoa học công nghệ, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, tín dụng.
Đến năm 2025, có ít nhất 10.000 sản phẩm OCOP đạt chuẩn từ 3 sao trở lên, ít nhất 3% đạt 5 sao.
Tạo việc làm, tăng thu nhập, phát triển sản phẩm đặc trưng vùng miền, bảo tồn giá trị truyền thống, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, hạn chế di dân ra thành phố.
22. Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nông nghiệp, phát triển kinh tế địa phương
Chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm tại chỗ, phát triển vùng nguyên liệu, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong nông nghiệp, nông thôn.
Đề án “Tuyên truyền, vận động, hướng dẫn nông dân sản xuất, kinh doanh nông sản, thực phẩm an toàn vì sức khỏe cộng đồng” giai đoạn 2026–2030.
23. Chính sách bảo hiểm xã hội đa tầng và mở rộng bao phủ
Nghị quyết 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội xác định phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng, linh hoạt, hiện đại, hội nhập quốc tế, mở rộng diện bao phủ, hướng tới bảo hiểm xã hội toàn dân. Trợ cấp hưu trí xã hội cho người cao tuổi không có lương hưu hoặc bảo hiểm xã hội hằng tháng. Bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện, với chính sách hỗ trợ phù hợp cho nông dân, người nghèo, lao động khu vực phi chính thức. Điều chỉnh điều kiện hưởng chế độ hưu trí, giảm dần số năm đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu từ 20 năm xuống 15 năm, hướng tới còn 10 năm. Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, đơn giản hóa thủ tục, nâng cao chất lượng dịch vụ.
Tác động thực tế
- Đến năm 2021, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội đạt 35% lực lượng lao động, phấn đấu đạt 45% vào năm 2025, 60% vào năm 2030.
- Tỷ lệ người hưởng lương hưu, trợ cấp hưu trí xã hội tăng lên 55% năm 2025, 60% năm 2030.
- Mức độ hài lòng của người dân đạt 80% năm 2021, hướng tới 90% năm 2030.
Những việc làm có lợi cho nhân dân trên đây đã và đang được hiện thực hóa bằng hàng loạt chính sách, chương trình, phong trào lớn, có tác động sâu rộng, toàn diện đến mọi mặt đời sống xã hội. Đảng luôn đặt con người làm trung tâm, phát triển bền vững, bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau. Các thành tựu đạt được là minh chứng sinh động cho tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo nền tảng vững chắc để đất nước phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh, hạnh phúc.
Trong giai đoạn tiếp theo, với những định hướng, giải pháp đồng bộ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn dân, chắc chắn các chủ trương, chính sách, phong trào sẽ tiếp tục phát huy hiệu quả, nâng cao hơn nữa đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, chăm lo y tế, giáo dục, xây dựng nông thôn mới hiện đại, văn minh, góp phần xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc.
Hà Đoàn (Tổng hợp)
- Hội LHPN xã Ái Tử lan tỏa tinh thần tương thân tương ái qua gia hàng 0 đồng (10/02/2026)
- 🌿Nhân dịp Tết nguyên đán Bính Ngọ 2026, xã Ái Tử tổ chức Lễ viếng và dâng hoa, dâng hương tại các Nghĩa trang Liệt sĩ xã🌿 (09/02/2026)
- Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Ái Tử trao 80 suất quà “Xuân yêu thương - Tết sum vầy” (09/02/2026)
- Lãnh đạo xã Ái Tử thăm các gia đình chính sách, có công cách mạng (09/02/2026)
- Phụ nữ xã Ái Tử Chợ Xuân nông sản (06/02/2026)
- Hoa hậu Nhân Ái Nguyễn Thị Bình trao 60 suất quà cho gia đình có hoàn cảnh khó khăn (06/02/2026)
- Xã Ái Tử hiệp thương lần thứ hai thỏa thuận lập danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng Nhân dân xã nhiệm kỳ 2021 - 2026 (03/02/2026)
- Thông báo niêm yết danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 (03/02/2026)
- Ái Tử dâng hoa Bia ghi dấu nơi thành lập một trong những chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Quảng Trị (03/02/2026)
- Đảng ủy xã Ái Tử tổ chức gặp mặt kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/2026)
ĐC: Xã Ái Tử, tỉnh Quảng Trị
ĐT: 0233.3828.307 - Email: ubndaitu@quangtri.gov.vn
HỆ THỐNG CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH QUẢNG TRỊ
Quốc tế Phụ nữ 8/3



